Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 132/QĐ-SKHCN ngày 02/7/2024 Ban hành Quy chế thi đua, khen thưởng của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Khánh Hòa. Theo đó, quy định chung về thi đua, khen thưởng như sau:
Quy định chung về thi đua, khen thưởng thực hiện theo Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định số 98/2023/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 01/2024/TT- BNV của Bộ Nội vụ, Quyết định số 09/2024/QĐ-UBND ngày 09/5/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và các quy định sau:
1. Đối với khen thưởng theo công trạng: Tập thể, cá nhân đã được tặng bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, huân chương các hạng thì sau 02 năm nếu đạt tiêu chuẩn theo quy định mới tiếp tục xem xét, đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen (trừ khen thưởng hàng năm theo cụm, khối thi đua và khen thưởng chuyên đề, đột xuất).
2. Khen thưởng phải gắn với kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân.
a) Cá nhân là đối tượng thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, sau khi có kết quả đánh giá, xếp loại hàng năm về mức độ hoàn thành nhiệm vụ sẽ xem xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng của cấp có thẩm quyền;
b) Cá nhân là đối tượng áp dụng Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hàng năm là căn cứ xét khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng;
c) Cá nhân không thuộc đối tượng áp dụng Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì Thủ trưởng đơn vị ban hành quy định cụ thể về đánh giá, xếp loại của cá nhân để làm căn cứ xét khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng;
d) Khi xét khen thưởng đối với người đứng đầu, phải căn cứ vào thành tích của tập thể do cá nhân đó lãnh đạo, phụ trách.
3. Khen thưởng phải gắn với kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể.
Việc công nhận mức độ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với tập thể được thực hiện theo quy định của Đảng về kiểm điểm và đánh giá xếp loại chất lượng hàng năm đối với tập thể và các quy định của cấp có thẩm quyền;
4. Thời gian trình khen thưởng lần tiếp theo được tính theo thời gian lập thành tích ghi trong quyết định khen thưởng lần trước. Đối với quyết định khen thưởng không ghi thời gian thì việc đề nghị khen thưởng lần sau được tính từ thời điểm ban hành quyết định khen thưởng lần trước.
5. Hồ sơ đề nghị khen thưởng đảm bảo đúng thời hạn, thành phần, nội dung theo quy định. Tập thể, cá nhân chịu trách nhiệm về tính chính xác trong việc kê khai báo cáo thành tích đề nghị khen thưởng. Người đứng đầu tập thể, cơ quan chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ đề nghị xét khen thưởng của tập thể, cá nhân thuộc cơ quan trước khi trình cấp trên khen thưởng.
6. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, cá nhân trực tiếp thực thi nhiệm vụ, gương người tốt, việc tốt, hành động dũng cảm, cứu người, cứu tài sản, chống tham nhũng; các tập thể và cá nhân từ yếu kém phấn đấu thành điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua, các lĩnh vực khó khăn, độc hại, nguy hiểm; cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số.
7. Căn cứ quy định, tình hình thực tiễn và phạm vi, mức độ ảnh hưởng của thành tích, cơ quan khen thưởng theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng cho các tập thể, cá nhân trực tiếp dũng cảm, quên mình cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân; bắt cướp; phòng, chống cháy, nổ; phòng, chống thiên tai; phòng, chống dịch bệnh; cứu nạn, cứu hộ; dũng cảm trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội... có phạm vi ảnh hưởng và tác dụng nêu gương trên toàn tỉnh.
8. Trường hợp cá nhân có vi phạm, khuyết điểm ở đơn vị cũ nhưng bị xử lý kỷ luật, thi hành kỷ luật ở đơn vị mới chuyển đến thì khi xét thành tích khen thưởng (đối với tập thể) được tính là vi phạm ở đơn vị cũ. Các vụ việc đã được đánh giá vào kết quả của tập thể, cá nhân thời gian trước thì không lấy vụ việc đó để đánh giá khen thưởng đối với tập thể, cá nhân vào thời gian tiếp theo.
9. Không xét thi đua, đề nghị khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân sau:
a) Có hành vi gian dối trong việc kê khai thành tích, cung cấp thông tin sai sự thật hoặc làm giả hồ sơ, giấy tờ để đề nghị tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng;
b) Không xét khen thưởng cho người đứng đầu tập thể vị nếu trong năm tập thể bị cấp có thẩm quyền phê bình bằng văn bản hoặc tập thể, cá nhân để xảy ra hoặc trực tiếp liên quan đến vụ việc tiêu cực, tham nhũng, vi phạm trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc có dấu hiệu vi phạm đang chờ các cơ quan có thẩm quyền kết luận;
c) Tập thể có kết quả đánh giá tổ chức đảng hoàn thành nhiệm vụ hoặc không hoàn thành nhiệm vụ; tập thể để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước, nội bộ mất đoàn kết hoặc để xảy ra vụ việc gây mất uy tín, tạo dư luận xấu trong xã hội; tập thể có người đứng đầu bị xử lý kỷ luật đảng, chính quyền, đoàn thể từ hình thức khiển trách trở lên.
d) Tập thể, cá nhân có từ 10% hồ sơ thủ tục hành chính giải quyết trễ hạn trở lên trong năm, hoặc 10% nhiệm vụ được giao thực hiện trên phần mềm nhắc việc của UBND tỉnh trễ hạn thì không được xem xét công nhận các danh hiệu thi đua;
đ) Tập thể không được xếp hạng tốt về kết quả cải cách hành chính thì không được xem xét công nhận các danh hiệu thi đua;
e) Cá nhân là người đứng đầu nếu để tập thể có xếp hạng kết quả cải cách hành chính đạt mức trung bình trở xuống thì không được xét tặng các danh hiệu thi đua.
10. Trong 01 năm không đề nghị cấp trên xét, tặng 02 hình thức khen thưởng cấp Nhà nước cho một tập thể hoặc một cá nhân (trừ trường hợp có thành tích đặc biệt xuất sắc, thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất, khen thưởng quá trình cống hiến; khen thưởng theo niên hạn);
11. Chỉ lấy kết quả khen thưởng về thành tích toàn diện để làm căn cứ xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng. Kết quả khen thưởng phong trào thi đua theo đợt được ghi nhận và ưu tiên khi xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng;
*Xem chi tiết Quyết định tại đây
Thành