01/03/2026 15:30        

Chỉ thị về định hướng phát triển ngành Khoa học và Công nghệ năm 2026

Năm 2026 là năm khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 – 2030; tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đòi hỏi toàn ngành Khoa học và Công nghệ phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-BKHCN ngày 15/01/2026 về định hướng phát triển ngành Khoa học và Công nghệ năm 2026; yêu cầu toàn Ngành tập trung quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, kỷ cương, sácg tạo; quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả theo chủ đề điều hành của Chính phủ “Kỷ cương trách nhiệm; chủ động hiệu quả; đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá; tăng trưởng bền vững”.

Đẩy mạnh chuyền đổi số, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) trong điều hành, quản lý, tham mưu, coi đây là yêu cầu bắt buộc trong đổi mới phương thức làm việc của từng đơn vị và từng cán bộ. Tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp của Ngành, cụ thể hóa các giá trị cốt lõi “Tiên phong - Sáng tạo - Đột phá - Tận tụy - Trung dũng - Nghĩa tình” và phương châm hành động “Làm gương - Kỷ cương - Trọng tâm - Bứt phá”.

Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2026

1. Lĩnh vực Khoa học và Công nghệ

Khoa học và Công nghệ phải đóng góp trực tiếp, thiết thực vào nâng cao đời sống người dân và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tư duy quản lý nhà nước phải đổi mới căn bản: chuyển từ cơ chế “hỗ trợ đầu vào” sang quản lý theo “kết quả đầu ra”, trong đó Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt thị trường thông qua cơ chế đặt hàng sản phẩm cuối cùng. Tập trung xây dựng hệ sinh thái thống nhất “giáo dục - khoa học - nhân tài” với cơ chế đãi ngộ vượt trội nhằm thu hút tổng công trình sư và nhà khoa học đầu ngành; đẩy mạnh mô hình liên kết 3 nhà “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”. Cơ chế tài chính chuyển dần sang phương thức “đặt hàng và mua kết quả” để tối ưu hóa hiệu quả đầu tư. Đồng thời, cần thúc đẩy nghiên cứu liên ngành (kết hợp khoa học tự nhiên, kỹ thuật và xã hội nhân văn), chấp nhận rủi ro như một phần tất yếu của sáng tạo và tập trung làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi để tăng cường tính tự chủ của nền kinh tế.

Triển khai quyết liệt, hiệu quả Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Công nghệ cao (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chuyển giao công nghệ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tổ chức triển khai Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập. Ưu tiên nguồn lực triển khai Chương trình quốc gia phát triển các sản phầm công nghệ chiến lược gồm: Mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt, AI camera xứ lý tại biên, Robot tự hành, Mạng 5G, Hạ tầng Blockchain và UAV. Đặc biệt, tận dụng làn sóng FDI thế hệ mới để đàm phán chuyển giao công nghệ phục vụ “Chuyển đổi kép” (Xanh và Số), xây dựng các cơ sở nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và thu hút trí thức kiều bào tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

2. Lĩnh vực Đổi mới sáng tạo

Đổi mới sáng tạo được xác định là sự nghiệp của toàn dân, lấy khoa học và công nghệ làm nền tảng để kích hoạt đồng bộ các chủ thể trong hệ sinh thái. Hoạt động này không chỉ dừng lại ở các mô hình thương mại điện tử bề nổi mà phải đi vào chiều sâu, tập trung giải quyết các bài toán cốt lõi của nền kinh tế bằng khoa học và công nghệ, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao. Trong đó, hệ thống các Trung tâm Đổi mới sáng tạo đóng vai trò hạt nhân, kết nối, cộng hưởng và dẫn dắt hoạt động của từng địa phương, ngành và quốc gia nhằm hình thành một hệ sinh thái thống nhất, hiệu quả. Chuyển dịch trọng tâm từ hỗ trợ “khởi nghiệp” sang hỗ trợ doanh nghiệp “tăng trưởng quy mô”. Nhà nước sẽ thực hiện chính sách “khách hàng đầu tiên” thông qua đặt hàng và mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược; đồng thời chia sẻ chi phí hạ tầng kỹ thuật dùng chung để thúc đẩy thương mại hóa.

Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế thông qua việc triển khai hiệu quả Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chuyển giao công nghệ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thúc đẩy triển khai thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương. Triển khai xẩy dựng các chương trình đổi mới sáng tạo cấp quốc gia; đầy mạnh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), hoàn thiện mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo các cấp và triển khai Bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo địa phương (PII). Việt Nam trong nhóm 04 quốc gia dẫn đầu Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) và tăng ít nhất 01 bậc theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Đặc biệt, cần đẩy nhanh cơ chế hình thành doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) từ các viện, trường với nguyên tắc phân chia lợi ích rõ ràng và áp dụng quy định miễn trừ trách nhiệm trước rủi ro khách quan nhằm khuyến khích tinh thần “dám thử”, “dám làm”.

3. Lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông

Bưu chính, Viễn thông được xác định là hai trụ cột nền tảng bảo đảm dòng chảy dữ liệu và vật chất của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển mới, công tác quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, thúc đẩy lĩnh vực này thực hiện cuộc chuyển dịch căn bản: Viễn thông chuyển từ hạ tầng kết nối đơn thuần sang hạ tầng số (hạ tầng sản xuất, tri thức) với đặc tính băng thông siêu rộng, xanh, an toàn và thông minh; Bưu chính chuyển thành hạ tầng vật lý cốtố lõi cho thương mại điện tử và dịch vụ công, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái số. Đặc biệt, hình thành không gian bưu chính 3D - kết hợp mạng lưới mặt đất và không gian tầm thấp (sử dụng drone, robot) để tối ưu hóa vận chuyển cho nền kinh tế số.

Hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng Luật Bưu chính (sửa đổi) và các quy định về Viễn thông - Tần số. Tập trung đầy mạnh thương mại hóa 5G phục vụ các ngành công nghiệp trọng điểm, tổ chức đấu giá băng tần 900 MHz, xử lý nhiễu vô tuyến điện và thúc đẩy nghiên cứu về 6G. Phát triển hạ tầng số hiện đại và “Bản sao số quốc gia” ngang tầm các nước tiên tiến. Đối với hạ tầng bưu chính, đầm bảo 100% xã có điểm phục vụ bưu chính có kết nối Internet. Ve an sinh xã hội số, triển khai ngay chương trình viễn thông công ích giai đoạn mới, thực hiện chính sách hỗ trợ điện thoại thông minh cho hộ nghèo, cận nghèo để phổ cập tiếp cận số, đồng thời thúc đẩy định danh số cá nhân qua tên miền quốc gia ".vn".

4. Lĩnh vực Chuyển đổi số quốc gia

Chuyển đổi số là cuộc cách mạng toàn dân và toàn diện, thay đổi căn bản phương thức sản xuất và quản trị. Trong đó, công nghệ số là công cụ, còn sự thay đổi phương thức vận hành gắn liền với trách nhiệm của người đứng đầu là yếu tổ quyết định. Dữ liệu được xác định là tài nguyên mới của kỷ nguyên số với đặc tính càng chia sẻ và khai thác thì càng tạo ra giá trị lón. Do đó, Chính phủ số phải đóng vai trò dẫn dắt, kiến tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghệ, thúc đẩy kinh tế số thẩm thấu vào mọi ngành nghề và trở thành động lực tăng trưởng chính.

Tập trung xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chuyển đổi số và Luật Trí tuệ nhân tạo, đồng thời cập nhật Khung kiến trúc số quốc gia và Bộ chỉ số đo lường hiệu quả chuyển đổi số. Xác định vị thế mới là “Kiến trúc sư trưởng" của công cuộc chuyền đồi số quốc gia, chuyển dịch vai trò từ trực tiếp “triển khai kỹ thuật” sang “điều phối và kết nổi” giữa các bộ, ngành, địa phương. Mục tiêu là xây dựng Chính phủ số toàn diện, hoạt động dựa trên dữ liệu và một xã hội số văn minh, an toàn, nơi mỗi công dân đều có danh tính số. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các nền tảng số quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cửa hàng bán lẻ chuyển đổi số. Đặc biệt, chú trọng phổ cập kỹ năng số cho người dân và ứng dụng Trợ lý ảo để hỗ trợ cán bộ, công chức nâng cao năng suất lao động.

5. Lĩnh vực Công nghiệp công nghệ số

Để hiện đại hóa đất nước và đảm bảo tăng trưởng bền vũng, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào gia công, lắp ráp mà phải chuyển dịch căn bản sang mô hình “Make in Vietnam to Lead: Sáng tạo tại Việt Nam, làm ra tại Việt Nam - Để dẫn dắt”. Chuyển đổi tư duy hỗ trợ từ diện rộng sang tập trung vào các sản phẩm cụ thể đã có thị trường; đồng thời chuyển từ xúc tiến thương mại đơn thuần sang chủ động “tạo cầu” thông qua các đơn đặt hàng trong nước. Trong đó, công nghiệp công nghệ số với hai trụ cột là công nghiệp bán dẫn và Trí tuệ nhân tạo đóng vai trò động lực then chốt. Trí tuệ nhân tạo cần được xác định là công nghệ nền tảng, là “điện năng mới” để phổ cập và nâng cao năng suất lao động cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thực thi hiệu quả Luật Công nghiệp công nghệ số và Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn. Ưu tiên thu hút đầu tư vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng như thiết kế vi mạch, đóng gói và kiểm thử tiền tiến. Bên cạnh đó, triển khai các để án quy mô lớn hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số vươn ra thị trường quốc tế. Về các chỉ tiêu tăng trưởng, Ngành phấn đấu đạt tổng doanh thu ước đạt 224 tỷ USD (tăng 13%); kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử đạt 199 tỷ USD (tăng 12%); và phát triển lực lượng doanh nghiệp công nghệ số lên trên 88 nghìn doanh nghiệp.

6. Lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Xác định Tiêu chuẩn để dẫn dắt phát triển; Quy chuẩn là hàng rào bảo vệ quốc gia; Chất lượng phải đảm bảo sự nghiêm minh. Tiêu chuẩn phải đi trước một bước, phải hiện đại hóa hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và quan tâm đến hiệu quả sử dụng các tiêu chuần quốc gia đã được công bố; tiêu chuẩn phải dẫn dắt sản xuất, đo lường phải kiểm soát chất lượng, tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Chuyển dịch từ quản lý phương tiện đo sang quản lý kết quả đo và xây dựng Hạ tầng độ tin cậy quốc gia. Mở rộng phạm vi hoạt động đo lường sang các lĩnh vực mới như Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), Năng lượng mới, Kinh tế xanh, Tín chỉ carbon...; Gắn kết hoạt động đo lường với hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất và chất lượng.

Chuyển đổi tư duy quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” và quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu số, nền tảng sổ; từ “kiểm tra phòng ngừa” sang “dẫn dắt thị trường”. Nhiệm vụ trọng tâm là trình Quốc hội sửa đổi Luật Đo lường và hoàn thiện hành lang pháp lý; thực hiện chuyển đổi số toàn diện. Phấn đấu công bố ít nhất 1.000 tiêu chuẩn quốc gia mới tập trung vào các ngành chiến lược (chip bán dẫn, Trí tuệ nhân tạo, robot, UAV...) với tỷ lệ hài hòa quốc tế đạt 70-80%. Đồng thời, đầy mạnh áp dụng mã số mã vạch, truy xuất nguồn gốc qua nhãn điện tử và hộ chiểu số sản phẩm, hỗ trợ 5.500 doanh nghiệp định danh sản phẩm và đảm bảo vai trò quốc tế tại Tiểu ban Tiêu chuẩn và Hợp chuẩn thuộc Ủy ban Thương mại và Đầu tư của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC).

7. Lĩnh vực Sở hữu trí tuệ

Trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là nguồn lực cốt lõi, chiếm tới 70% - 80% tổng giá trị tài sản quốc gia, giữ vai trò nền tảng cho sự thịnh vượng bền vũng so với các tài sản vật lý truyền thống. Do đó, hoạt động sở hữu trí tuệ phải gắn chặt với đổi mới sáng tạo; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chính là bảo vệ động lực sáng tạo, tạo điều kiện tiên quyết để các sáng chế nhanh chóng được thương mại hóa và gia tăng giá trị hàng hóa trên thị trường. Nhà nước sẽ huy động nguồn lực để ưu tiên bảo hộ, hỗ trợ các nhóm công nghệ chiến lược gắn với tự chủ công nghệ và an ninh kinh tế; đồng thời đẩy mạnh đào tạo, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp, viện, trường và startup nhằm tối ưu hóa quy trình xử lý và khai thác tài sản trí tuệ.

Triển khai quyết liệt, hiệu quả Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thực hiện chuyển đổi số toàn diện và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo vào quy trình thầm định, qua đó rút ngắn thời gian xác lập quyền để doanh nghiệp sớm khai thác thương mại; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng và hỗ trợ đăng ký bảo hộ quốc tế cho các sản phẩm chủ lực quốc gia.

8. Lĩnh vực Năng lượng nguyên tử, an toàn và bức xạ hạt nhân

Phát triển năng lượng nguyên tử được xác định là một trong những trụ cột then chốt của lĩnh vực công nghệ cao lưỡng dụng, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tặng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng và cũng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh quốc gia. Với triết lý cốt lõi “An toàn tuyệt đối Tự chủ công nghệ - Hợp tác quốc tế sâu rộng”, ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam kiên định mục tiêu hiện đại hóa để phục vụ dân sinh và tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng ‘0' (Net Zero) vào năm 2050. Đồng thời, đẩy mạnh triển khai thực hiện hiệu quả các Chiến lược, Quy hoạch và Đề án trọng điểm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đặc biệt là các nhiệm vụ về nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của điện hạt nhân thế hệ mới.

Ưu tiên cao nhất là luật hóa các tiêu chuẩn của Cơ quan Nặng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển hạ tầng điện hạt nhân quốc gia. Tập trung nguồn lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) phục vụ mục tiêu phát thải ròng bằng ‘0’ và an ninh năng lượng. Chuyển dịch mô hình quản lý từ quy mô cơ sở bức xạ đơn lẽ sang quản trị hệ thông nhà máy điện hạt nhân, đảm bảo an toàn tuyệt đối xuyên suốt vòng đời dự án. Ngành sẽ thực hiện thẩm định nghiêm ngặt về an toàn cho Dự án Trung tâm Khoa học Công nghệ hạt nhân và Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận; đồng thời xây dựng cơ chế đãi ngộ đặc thù để thu hút chuyên gia đầu ngành.

9. Các công tác khác

a) Công tác Phát triển nhân lực số và đào tạo, thu hút nhân tài khoa học công nghệ

Phát triển nhân lực số, nhân lực công nghệ và đào tạo, thu hút nhân tài khoa học công nghệ là yếu tổ then chốt để thúc đẩy phát triển Ngành, trong đó nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức là nhiệm vụ nền tảng để đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đi vào thực chất. Công tác đào tạo nhân lực số, nhân lực công nghệ cao và đào tạo, thu hút nhân tài khoa học công nghệ cần chuyển từ tư duy chứng chỉ sang thực chiến, biến kỹ năng số thành công cụ làm việc hằng ngày, găn chặt với vị trí việc làm và tiêu chí đánh giá, bổ nhiệm cán bộ.

Cần thực hiện cuộc cách mạng đào tạo dựa trên công nghệ (Đại học số, MOOCs) và triển khai quyết liệt chiến dịch "Reskill", "Upskill” nhân lực sang lĩnh vực bán dẫn, Trí tuệ nhân tạo/thiết kế chip... Về thu hút nhân tài, thay đổi tu duy sang "giao sứ mệnh lớn” kết hợp cơ chế đặc biệt để quy tụ tinh hoa và trí thức kiều bào. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành trung tâm cung cấp nhân lực công nghệ cao toàn cầu, sở hữu 50.000 kỹ sư thiết kế chip và hình thành đội ngũ các nhà khoa học đỉnh cao dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới.

b) Công tác xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật

Thể chế là nền tảng cho sự phát triển. Tư duy lập pháp chuyển mạnh từ “quản lý chặt” sang “quản lý rủi ro” và “kiến tạo không gian cho cái mới”, coi thể chế là động lực giải phóng nguồn lực.

Nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 là hoàn thành 100% các văn bản hướng dẫn thi hành các luật mới, tháo gỡ điểm nghẽn để thu hút các tập đoàn công nghệ lớn và thúc đẩy chuyển giao công nghệ nguồn (Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học). Định hướng chiến lược là xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đồng bộ, hiện đại, tương thích quốc tế, trong đó thể chế phải “đi trước mở đường”, chấp nhận đặc thù rủi ro của khoa học và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ.

Đồng thời, nghiên cứu, rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản để phục vụ hoạt động phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Trong đó, chú trọng hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm: (i) Thu hút đầu tư từ các tập đoàn công nghệ lớn, tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; nâng cao năng lực sản xuất, nghiên cứu, tiếp thu, chuyển giao công nghệ; (ii) Thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ với các quốc gia tiên tiến, nhất là trong các lĩnh vực như Trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, bán dẫn và năng lượng tái tạo.

c) Công tác tổ chức cản bộ và thi đua khen thưởng

Tổ chức triển khai đổi mới căn bản công tác quản lý cán bộ theo hướng chuyển từ quản lý theo ngạch, bậc, hồ sơ sang quản lý theo vị trí việc làm và năng lực; bảo đảm bổ trí đúng người, đúng việc, đúng năng lực; gắn quản lý cán bộ với yêu cầu thực tiễn và kết quả công việc. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ từ đánh giá định tính, theo năm sang đánh giá theo kết quả công việc, thực hiện đánh giá định kỳ theo quý; từng bước áp dụng các công cụ số, hệ thổng đánh giá dựa trên dữ liệu; coi đánh giá là căn cứ để sử dụng, bố trí, quy hoạch và phát triển cán bộ.

Đổi mới công tác quy hoạch, bổ nhiệm theo hướng chuyển từ coi trọng quy trình sang lựa chọn người có khả năng thực hiện nhiệm vụ; ưu tiên lựa chọn cán bộ làm việc được, tạo ra kết quả thực chất, không chỉ đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn hình thức. Đổi mới công tác phát triển đội ngũ cán bộ theo hướng xây dựng đội ngũ chiến lược; phân nhóm cán bộ để có phương thức phát triển phù hợp (nhóm tham mưu, nhóm chuyên môn sâu, nhóm quản lý - điều hành); tăng cường thu hút chuyên gia, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực nổi trội.

Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác khen thưởng; đảm bảo đúng người, đúng thành tích, đúng quy định và kịp thời. Công tác thi đua khen thưởng phải đổi mới thực chất, hướng về cơ sở, vinh danh những người lao động trực tiếp, những nhà khoa học có sản phẩm được ứng dụng hiệu quả vào cuộc sống, những doanh nghiệp công nghệ có khát vọng vươn tầm thế giới.

d) Công tác kể hoạch - tài chính

Đổi mới phương thức lập kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước hàng năm trên cơ sở kể hoạch trung hạn theo chương trình, theo sứ mệnh; ưu tiên nguồn lực cho các chương trình lớn, chuỗi nhiệm vụ có mục tiêu dài hạn (03-05 năm), bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, góp phần tạo tác động lan tỏa. Đổi mới phương thức phân bổ và sử dụng ngân sách, chuyển dần từ cấp phát theo đề tài sang cơ chế đặt hàng, mua kết quả, thuê dịch vụ; phát huy vai trò của Nhà nước là khách hàng thông minh, người mua thông minh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

Đổi mới quản lý rủi ro hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, phát triển giải pháp xã hội, đổi mới sáng tạo, thí điểm chính sách); chấp nhận rủi ro có kiểm soát; đánh giá cả nỗ lực, năng lực và kết quả cuối cùng. Đổi mới cách đánh giá hiệu quả chi ngân sách từ yêu cầu “chi đúng, đủ, kịp thời” sang đánh giá theo năng lực tạo ra và tác động thực tế đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

đ) Công tác hợp tác, hội nhập quốc tế

Chuyển đổi căn bản tư dụy và phương thức hợp tác quốc tế từ “đối ngoại hành chính” sang “chủ động kiến tạo, định hình hợp tác chiến lược”; tập trung tối đạ nguồn lực để thu hút tri thức, công nghệ tiên tiến của thế giới về Việt Nam, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ các sản phảm, giải pháp khoa học công nghệ Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế. Ưu tiên ký kết các hiệp định chuyển giao công nghệ nguồn trong 11 nhóm công nghệ chiến lược, hình thành các phòng thí nghiệm liên kết quốc tế và mạng lưới chuyên gia kiều bào.

Chuyển trọng tâm hợp tác từ học thuật sang chuyển giao năng lực và công nghệ; thúc đẩy các chương trình kết nổi đổi mới sáng tạo và ứng dụng thành tựu quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam; tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ nguồn, làm chủ kỹ thuật cốt lõi và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tăng cường tham gia định hình tiêu chuẩn, quy tắc và cơ chế quản trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các khuôn khổ đa phương; chuyển mô hình hợp tác từ “trao đổi” sang “cùng hành động”. Mở rộng và nâng cao vai trò của hoạt động hợp tác quốc tế trong kết nối đối tác, chuyên gia, cập nhật xu hướng công nghệ; tăng cường thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ trong nước, thúc đẩy dòng chảy tri thức và công nghệ về Việt Nam.

e) Công tác Nhà trường

Các trường, học viện, cơ sở đào tạo thuộc Bộ phải tiên phong thí điểm tự chủ đại học toàn diện, gắn kết chặt chẽ mô hình “Nhà trường - Viện nghiên cứu - Doanh nghiệp”; đẩy mạnh đào tạo kinh tế số, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các lĩnh vực viễn thông thế hệ mới, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, an ninh mạng; tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với doanh nghiệp và thị trường; trở thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển mạnh, cái nôi đào tạo nhân tài công nghệ cho đất nước. Tổ chức xây dựng Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn Thông trở thành cơ sở đào tạo hàng đầu về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

f) Công tác Thống kê và đánh giá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:

Tập trung hiện đại hóa hạ tầng, xây dựng Hệ thống thông tin, thống kê, cơ sở dữ liệu về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tích hợp kết nối liên thông với hệ thống thông tin quốc gia về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tích hợp, đảm bảo dữ liệu “Đúng - Đủ - Sạch - Sống" để phục vụ hoạt động chỉ đạo điều hành, ra quyết định dựa trên dữ liệu. Chuần hóa các bộ chỉ số đo lường (GII, PII, DTI...) theo chuẩn quốc tế để định vị chính xác vị thế Việt Nam.

Dữ liệu phải được phân tích, trực quan hóa để phục vụ chỉ đạo điều hành, ra quyết định dựa trên dữ liệu; ứng dụng Trí tuệ nhân tạo và Dữ liệu lớn để dự báo xụ hướng, đo lường đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào tăng trưởng, hình thành văn hóa quản trị dựa trên số liệu trong toàn Ngành. Chú trọng công tác đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyền đổi số để làm cơ sở để phân bổ nguồn lực và điều chỉnh chính sách.

g) Công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp

(i) Về thể chế: Hoàn thiện pháp lý theo hướng “một văn bản sửa nhiều văn bản” để cắt giảm thủ tục hành chính thực chất. Kiểm soát chặt chẽ quy định mới, đầy mạnh phân cấp, tái cấu trúc quy trình và xóa bỏ rào cản địa giới hành chính; (ii) Về số hóa: Lấy dữ liệu làm cốt lõi, đầy nhanh số hóa và tái sử dụng dữ liệu để người dân chỉ cung cấp thông tin một lần. Đảm bảo 100% thủ tục hành chính thực hiện trực tuyến toàn trình, thông suốt và ưu tiên phát triển dịch vụ công liên thông; (iii) Về kỷ cương: Chuyển mạnh tư duy sang “kiến tạo, phục vự”; xử lý nghiêm nhũng nhiễu, chẩm dứt chi phí không chính thức. Nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp trong tuân thủ pháp luật, không trục lợi chính sách và kiên quyết từ chối tiêu cực; (iv) Về môi trường kinh doanh: Quyết liệt bãi bỏ các điều kiện kinh doanh, giấy phép bắt hợp lý, chồng chéo. Thu hẹp danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chuyển mạnh sang hậu kiểm và minh bạch hóa quy định trên hệ thống quốc gia để giảm tối đa chi phí tuân thủ.

Về công tác quản lý nhà nước tại địa phương

Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đóng vai trò là “Kiến trúc sư trưởng”, là “Tư lệnh” về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại địa phương. Cần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Tập trung giải quyết các bài toán đặc thù của địa phương bằng giải pháp công nghệ (như nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, quản lý đô thị, môi trường...). Tránh đầu tư dàn trải, manh mún, cát cứ dữ liệu. Phải tận dụng tồi đa các nền tảng số quốc gia dùng chung để tiết kiệm nguồn lực và đảm bảo tính đồng bộ, kết nối các mô hình kinh doanh mới, sandbox, kinh tế tầm thấp.

*Xem chi tiết Chỉ thị tại đây

H.Huy

 







Đa phương tiện

Cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo Khánh Hòa - 2026

Hoạt động KHCN
Đề tài dự án khoa học
Khoa học công nghệ cơ sở
Giao quyền kết quả NCKHCN Thị trường Công nghệ
Công nghệ
Khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
Sở hữu trí tuệ
Công nghệ thông tin-Bưu chính VT
An toàn bức xạ
Quy hoạch, Kế hoạch KH&CN
T.Chuẩn - Đ.Lường - C.Lượng
Giải thưởng KH&CN
Hàng rào KT trong thương mại
Hoạt động sáng kiến
Thanh tra. kiểm tra
Liên kết