|
9. Nội dung báo cáo tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ:
9.1. Số lượng, khối lượng sản phẩm:
Đầy đủ theo hợp đồng
9.2. Chất lượng sản phẩm:
Đạt yêu cầu
9.3. Chủng loại sản phẩm:
Đạt và vượt yêu cầu
9.4. Báo cáo tổng hợp kết quả:
- Về tổng quan các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài:
- Đã cập nhật tổng quan các vần đề có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu;
- Về phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng; số liệu, tư liệu có tính đại diện, độ tin cậy, xác thực:
+ Phương pháp nghiên cứu bám sát đề cương được duyệt;
+ Phương pháp điều tra khảo sát có tính chuyên sâu phù hợp với điều kiện thực tế;
+ Các mẫu thí nghiệm, các số liệu điều tra mang tính đại diện, chi tiết, cụ thể rõ ràng.
- Về nội dung báo cáo là toàn bộ kết quả đạt được của đề tài, được trình bày theo kết cấu hệ thống và lô-gíc khoa học, với các luận cứ khoa học có cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thể giải đáp những vấn đề nghiên cứu đặt ra, phản ánh trung thực kết quả;
- Về kết quả đề tài:
(1) Những lợi thế trong sản xuất sắn ở huyện Khánh Vĩnh: Nguồn tài nguyên đất dồi dào, nguồn lao động sẵn có, khí hậu ưu đãi cho sự phát triển của cây trồng nói chung, cây sắn nói riêng của huyện. Sắn là đối tượng cây trồng có lợi thế so sánh về hiệu quả kinh tế trên đất đồi gò, là cây trồng chủ lực để phát triển kinh tế hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
(2) Những hạn chế trong sản xuất sắn ở huyện Khánh Vĩnh: Nông hộ sản xuất thiếu nguồn vốn để đầu tư và thông tin kỹ thuật để canh tác; Thiếu hệ thống cung ứng cây giống chất lượng để phục vụ sản xuất; Khí hậu thời tiết ngày càng diễn biến khó lường làm cho việc sản xuất sắn của bà con gặp nhiều khó khăn, dịch bệnh phát sinh nhiều.
(3) Tuyển chọn được 2 giống sắn SM937-26 và KM140 thích hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của huyện Khánh Vĩnh.
Giống sắn KM140 thuộc nhóm chín muộn với thời gian sinh trưởng từ 328 - 330 ngày, năng suất củ tươi đạt từ 43,0 - 47,2 tấn/ha và cao hơn đối chứng từ 31,5 - 50,3%, hàm lượng tinh bột biến động từ 25,5 - 26,1%, năng suất tinh bột đạt từ 11,2 - 12,0 tấn/ha và cao hơn đối chứng từ 46,3 - 57,7%, chống đổ ngã và chịu hạn tốt, nhiễm nhẹ với bệnh chổi rồng;
Giống sắn SM937-26 thuộc nhóm chín muộn với thời gian sinh trưởng từ 334 - 335 ngày, năng suất củ tươi đạt từ 43,1 - 45,7 tấn/ha và cao hơn đối chứng từ 27,3 - 50,7%, hàm lượng tinh bột biến động từ 26,2 - 27,5%, năng suất tinh bột đạt từ 11,3 - 12,6 tấn/ha và cao hơn đối chứng từ 53,7 - 59,2%, chống đổ ngã và chịu hạn tốt, nhiễm nhẹ với bệnh chổi rồng.
(4) Lượng phân bón đạm và kali thích hợp để bón cho cây sắn ở huyện Khánh Vĩnh là 100 kgN/ha và 160kg K2O/ha trên nền 500 kg phân hữu cơ vi sinh và 60kg P2O5. Với công thức phân bón cho 1 ha là 500 kg phân hữu cơ vi sinh, 100 kg N, 60 kg P2O5 và 160 kg K2O/ha, năng suất bình quân của cây sắn đạt 48,7 tấn/ha và cao hơn 15,1% so với công thức phân bón khuyến cáo hiện nay.
(5) Khoảng cách trồng hợp lý đối với cây sắn ở huyện Khánh Vĩnh là hàng cách hàng từ 80 - 100 cm và cây cách cây từ 80 - 100 cm. Đối với giống sắn SM937-26 khoảng cách trồng thích hợp là hàng cách hàng 100 cm và cây cách cây 100 cm, đối với giống sắn KM140 khoảng cách trồng thích hợp là hàng cách hàng 100 cm và cây cách cây 80 cm.
(6) Trong điều kiện hiện tại, phương thức canh tác sắn ở huyện Khánh Vĩnh được lựa chọn là làm đất tối thiểu và có trồng xen cây đậu đen. Khi có chính sách hỗ trợ làm đường đồng mức, phương thức canh tác sắn sẽ được lựa chọn là làm đất theo đường đồng mức và có trồng xen cây đậu đen.
(7) Xây dựng được 6 mô hình thử nghiệm giống và các biện pháp canh tác đã lựa chọn ở các chân đất, địa hình khác nhau. Mô hình sắn trồng thuần: đạt lãi ròng từ 16,1 - 21,3 triệu đồng/ha, cao hơn đối chứng từ 104,2 - 170,0%. Mô hình sắn trồng xen đậu đỗ: đạt lãi ròng từ 27,5 - 39,3 triệu đồng/ha, cao hơn đối chứng từ 118,9 - 212,7%.
(8) Đã đào tạo được 30 học viên về kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên chân đất huyện Khánh Vĩnh.
(9) Tổ chức tập huấn kỹ thuật canh tác sắn bền vững cho 400 lượt người tham gia.
9.5 Những đóng góp mới của nhiệm vụ KH&CN: Qua 3 năm nghiên cứu và xây dựng mô hình, đề tài đã tuyển chọn được 2 giống sắn cao sản với năng suất trên 25 tấn/ha và hàm lượng tinh bột trên 25%, nhiễm nhẹ bệnh chổi rồng, có khả năng thay thế hoàn toàn giống sắn cũ là KM94 hiện đang nhiễm chổi rồng trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó, đề tài cũng đã xây dựng được 2 quy trình kỹ thuật có áp dụng các tiến bộ kĩ thuật mới: (1) Quy trình Hướng dẫn kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc (2) Hướng dẫn kỹ thuật canh tác sắn bền vững phù hợp với điều kiện đầu tư hạn chế của đồng bào dân tộc. Các quy trình này được trình bày ngắn gọn (dạng tờ bướm), dễ hiểu cho người dân dễ dàng sử dụng.
9.6. Hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường:
a. Hiệu quả kinh tế:
- Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi có thực hiện 6 ha mô hình bao gồm mô hình thâm canh tổng hợp giống sắn cao sản và mô hình thâm canh tổng hợp sắn có kết hợp trồng xen đậu đen. Trong đó:
- Mô hình thâm canh tổng hợp giống sắn cao sản trong năm 2013 - 2014 lãi ròng trung bình 2 giống SM937-26 và KM140 đạt 18,3 triệu đồng/ha, cao hơn đối chứng 131,6%.
- Mô hình thâm canh tổng hợp sắn có kết hợp trồng xen đậu đen: Lãi ròng trung bình 2 giống SM937-26 và KM140 đạt 32,4 triệu đồng/ha, cao hơn đối chứng 157,1%.
Như vậy, với quy mô thực hiện của cả 6 mô hình là 6 ha thì thu nhập (tính cả công lao động) trực tiếp của nông hộ trong kỳ đề tài là: 208,8 triệu đồng.
b. Hiệu quả xã hội: Kết quả đạt được của đề tài đã chứng minh cho nông dân trực tiếp tham gia hoặc vùng lân cận thấy được hiệu quả việc trồng sắn cao sản ở huyện Khánh Vĩnh khi ứng dụng đồng bộ các giải pháp về khoa học công nghệ và kinh tế - xã hội, qua đó, thay đổi dần nhận thức của người nông dân trong canh tác, giảm thiểu áp lực việc di cư lao động tự do từ vùng nông thôn đến thành thị và góp phần ổn định dân sinh và kinh tế - xã hội vùng đề tài.
c. Hiệu quả môi trường: Nhờ cung cấp phân bón đầy đủ nên đã tăng hàm lượng mùn từ 0,1- 0,2%; tăng độ pH từ 0,3 -0,5 và cải thiện kết cấu đất. Việc canh tác sắn xen canh cây họ đậu đã góp phần tăng độ che phủ đất 10-20% qua đó giảm xói mòn đất, hạn chế thoái hóa đất. Do áp dụng các biện pháp canh tác tổng hợp, bón phân, chăm sóc hợp lý nên hạn chế sâu bệnh hại, qua đó giảm lượng thuốc BVTV so với canh tác của bà con nông dân từ 30 – 40%.
Trước đây phần lớn diện tích trồng sắn độc canh liên tục trong nhiều năm nên đất nghèo kiệt, đặc biệt là rất thiếu kali, nguy hiểm về môi trường, có thể đem lại những hậu quả xấu khó lường. Vì vậy, việc thay đổi phương thức trồng sắn thuần sang trồng sắn xen canh cây đậu đỗ đã góp phần giảm thiểu xói mòn và duy trì, cải thiện độ phì của đất.
9.7. Về tiến độ thực hiện: Đúng tiến độ
|