Sau gần hai thập kỷ kể từ khi được ban hành, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (SPHH) đã chính thức được sửa đổi, bổ sung và được Quốc hội thông qua vào ngày 18/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng được xác định tại các Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, 59-NQ/TW ngày 24/01/2025, 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 và 68-NQ/TW ngày 04/5/2025, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số quốc gia.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng SPHH đánh dấu một bước đột phá về thể chế trong công tác quản lý chất lượng, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước. Luật đặt nền tảng cho việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và tiếp cận quản trị theo rủi ro, góp phần xây dựng hành lang pháp lý minh bạch, hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Luật được sửa đổi, bổ sung theo 9 định hướng lớn, có tính chất định hình lâu dài, tạo cơ sở để Việt Nam chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng.
Với vai trò là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng SPHH trên địa bàn, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thông tin đến quý cơ quan, doanh nghiệp và người dân những nội dung mới quan trọng của Luật, đặc biệt là 9 định hướng đổi mới nổi bật, có ý nghĩa thiết thực trong quá trình triển khai chính sách tại địa phương thời gian tới.
Thứ nhất là chuyển đổi mô hình quản lý chất lượng theo rủi ro (Điều 3):
Một trong những đổi mới căn bản của Luật là chuyển đổi phương thức phân loại SPHH, từ cách tiếp cận hành chính theo nhóm (nhóm 1, nhóm 2) sang phân loại theo ba mức độ rủi ro: thấp, trung bình và cao. Mô hình mới này cho phép ưu tiên nguồn lực giám sát vào các nhóm sản phẩm có mức độ rủi ro cao hơn, đồng thời chuyển trọng tâm quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Nhờ đó, vừa nâng cao hiệu quả giám sát, vừa giảm thiểu các can thiệp hành chính không cần thiết, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Đây là bước chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, đánh giá rủi ro và ứng dụng công nghệ số, thể hiện rõ tinh thần cải cách thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.
Thứ hai là rõ nguyên tắc quản lý chất lượng phù hợp với từng mức độ rủi ro (Điều 5):
Luật quy định rõ nguyên tắc quản lý chất lượng SPHH dựa trên mức độ rủi ro cụ thể của từng nhóm sản phẩm, đảm bảo vừa giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, vừa phân bổ hợp lý nguồn lực quản lý nhà nước:
- Đối với SPHH hóa có rủi ro thấp: doanh nghiệp tự công bố tiêu chuẩn áp dụng (điểm b khoản 4 Điều 5);
- Đối với sản phẩm rủi ro trung bình: phải công bố tiêu chuẩn áp dụng, đồng thời tự đánh giá hợp quy hoặc sử dụng tổ chức chứng nhận đã được công nhận để đánh giá hợp quy (điểm c khoản 4 Điều 5);
- Đối với sản phẩm rủi ro cao: ngoài công bố tiêu chuẩn, sản phẩm bắt buộc phải được chứng nhận hợp quy bởi tổ chức được chỉ định (điểm d khoản 4 Điều 5).
Cách tiếp cận phân tầng này giúp tập trung kiểm soát hiệu quả các sản phẩm có nguy cơ cao ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn và môi trường, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản phẩm có rủi ro thấp, giảm gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp, phù hợp với định hướng quản lý hiện đại và thực tiễn quốc tế.
Thứ ba là quy định giảm nhẹ thủ tục hành chính đối với hàng nhập khẩu (Điều 34):
Luật bổ sung quy định tạo thuận lợi cho hàng hóa nhập khẩu có mức độ rủi ro trung bình. Theo đó, tổ chức, doanh nghiệp được công bố hợp quy dựa trên kết quả tự đánh giá hoặc chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được công nhận. Đặc biệt, đối với các lô hàng cùng loại, không phải công bố lại, trừ khi có thay đổi về quy chuẩn kỹ thuật, đặc tính sản phẩm hoặc có cảnh báo từ cơ quan quản lý có thẩm quyền. Quy định này góp phần giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian thông quan và nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu, phù hợp với xu hướng thương mại toàn cầu và cải cách thủ tục hành chính.
Thứ tư là ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn trong quản lý chuỗi cung ứng (Điều 6đ):
Lần đầu tiên, Luật dành một điều riêng quy định việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn trong toàn bộ quá trình quản lý chất lượng SPHH: Hộ chiếu số sản phẩm, nhãn điện tử; Hệ thống truy xuất nguồn gốc, tiếp nhận phản hồi người tiêu dùng; Giám sát chất lượng thông qua nền tảng số và hệ thống dữ liệu tích hợp. Những quy định này góp phần hiện đại hóa công tác quản lý chất lượng, đảm bảo minh bạch, chính xác và kịp thời trên toàn chuỗi cung ứng, từ sản xuất đến tiêu dùng.
Thứ năm là xây dựng hạ tầng chất lượng quốc gia hiện đại (Điều 6b):
Luật xác lập khung pháp lý về Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI), là hệ sinh thái gồm tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, kiểm tra và hoạch định chính sách. Đây là nền tảng kỹ thuật quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Nhà nước sẽ đầu tư phát triển hạ tầng này trên nền tảng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, bảo đảm kết nối dữ liệu giữa các cơ quan kiểm tra chất lượng, hải quan, hệ thống truy xuất nguồn gốc, phản ánh người tiêu dùng và cảnh báo quốc tế, từ đó nâng cao năng lực giám sát và cảnh báo sớm rủi ro chất lượng.
Thứ sáu là xây dựng hệ thống giám sát chất lượng SPHH quốc gia (Điều 48):
Luật quy định thiết lập hệ thống giám sát chất lượng cấp quốc gia, với chức năng: Kết nối dữ liệu giữa các cơ quan quản lý chất lượng; Thu thập, phân tích thông tin phản ánh, cảnh báo từ người tiêu dùng; Hỗ trợ công tác hậu kiểm và quản lý rủi ro chất lượng. Đây là bước tiến lớn trong việc quản lý chất lượng dựa trên dữ liệu, phân tích và công nghệ số, giúp tăng hiệu quả hậu kiểm, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính minh bạch trong toàn bộ quá trình quản lý SPHH.
Thứ bảy là quản lý chất lượng hàng hóa trên nền tảng số (Điều 34b, 16):
Luật bổ sung quy định quản lý chất lượng hàng hóa trong môi trường thương mại điện tử, làm rõ trách nhiệm của người bán và trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trung gian trong việc bảo đảm chất lượng hàng hóa:
- Người bán: phải công khai trung thực thông tin về chất lượng SPHH;
- Chủ sàn giao dịch điện tử: phải có biện pháp kiểm tra, xử lý đối với hàng hóa vi phạm; thiết lập và vận hành hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng.
Quy định này giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch trực tuyến, đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho các nền tảng số và người kinh doanh hàng hóa online.
Thứ tám là tăng cường chế tài xử lý vi phạm, công khai vi phạm trên nền tảng số (Điều 66, 8, 12, 16):
Luật tăng cường chế tài xử lý vi phạm nhằm nâng cao tính răn đe. Tùy mức độ, hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, thu hồi giấy phép hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, vi phạm sẽ bị công khai trên nền tảng số quốc gia. Luật cũng quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm như: thông tin sai sự thật, gian lận về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, kinh doanh hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn hoặc không rõ nguồn gốc, đặc biệt trong môi trường thương mại điện tử nhằm giúp tăng tính minh bạch, công bằng trong thị trường.
Thứ chín là hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu (Điều 6c, 23a):
Luật quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, bao gồm: Tư vấn, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế; Thử nghiệm, giám định, chứng nhận chất lượng; Áp dụng hệ thống quản lý, cải tiến năng suất, chất lượng; Xây dựng và phát triển thương hiệu để đáp ứng yêu cầu thị trường toàn cầu. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng SPHH là chính sách thiết thực nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó góp phần vào tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Trên đây là một số nội dung mới đáng chú ý của Luật, Sở KH&CN tỉnh Khánh Hòa thông tin rộng rãi đến các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có liên quan biết, chủ động nghiên cứu, triển khai thực hiện kịp thời, đúng quy định. Đồng thời, trong phạm vi chức năng được giao và trên cơ sở hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, Sở KH&CN sẽ phối hợp với các đơn vị chức năng tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thi hành Luật trên địa bàn tỉnh, trong đó định hướng ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm, như: Tổ chức phổ biến sâu rộng nội dung Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đến các cơ sở sản xuất, nhập khẩu, hệ thống phân phối, kinh doanh và thương mại điện tử trên địa bàn; xây dựng và triển khai kế hoạch tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước… bảo đảm sẵn sàng triển khai hiệu quả các nội dung mới của Luật từ ngày 01/01/2026./.
LanCC