Thực hiện Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai Đề án áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (Đề án 100). Trong giai đoạn 2020 – 2025 Sở KH&CN tỉnh Khánh Hòa đã chủ trì, phối hợp cùng các Sở, ngành, địa phương triển khai nhiều hoạt động nhằm xây dựng và áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) sản phẩm, hàng hóa. Kết quả đạt được như sau:
Những kết quả từ nỗ lực đồng bộ của các Sở, ngành, địa phương
Trên cơ sở kế hoạch triển khai nhiệm vụ thuộc Đề án 100 của UBND tỉnh Khánh Hòa, nhiều nhiệm vụ được xác định là trọng tâm và ưu tiên triển khai đã được các cơ quan chức năng khẩn trương thực hiện, bao gồm: tuyên truyền, đào tạo, tập huấn; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống TXNG; kết nối dữ liệu với Cổng thông tin TXNG Quốc gia; xây dựng các mô hình thí điểm áp dụng công cụ TXNG trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, thực phẩm.

Triển khai ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc thủy sản và quản lý tàu cá tại Khánh Hòa
Đáng chú ý, giai đoạn 2020 – 2025 toàn tỉnh đã tổ chức hơn 160 lớp tập huấn, hội thảo, thu hút hàng chục nghìn lượt học viên từ các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã cho đến hộ sản xuất nhỏ lẻ. Các nội dung tập huấn đa dạng: áp dụng mã số mã vạch (MSMV), tem điện tử, QR Code, sử dụng phần mềm Scan&Check; hướng dẫn quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; và nghiệp vụ tích hợp, khai thác thông tin hệ thống dữ liệu từ Cổng TXNG quốc gia.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều chuỗi cung ứng an toàn đã hình thành: trên địa bàn Khánh Hòa (trước sáp nhập) đã có 09 chuỗi sản phẩm chủ lực (xoài, sầu riêng, bưởi da xanh, tôm hùm, ốc hương, thịt gia cầm, rau,…), tại Ninh Thuận (trước sáp nhập) có 13 chuỗi thực phẩm an toàn (nước mắm, nho, táo, măng tây, dưa lưới,…). Đặc biệt, tính đến nay toàn tỉnh đã cấp được 41 mã số vùng trồng với tổng diện tích trên 4.400 ha, tạo tiền đề quan trọng cho xuất khẩu nông sản sang các thị trường có tiềm năng.
Trong lĩnh vực y tế, Sở Y tế đã triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu về TXNG thực phẩm đảm bảo theo quy định của Thông tư số 25/2019/TT-BYT và Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Hiện nay đã có hơn 54% cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Y tế áp dụng hệ thống TXNG.
Song song đó, các hoạt động hỗ trợ từ Chương trình OCOP, Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chương trình phát triển tài sản trí tuệ … cũng đã lồng ghép nhiều nội dung quan trọng về hoạt động TXNG, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và thương hiệu sản phẩm địa phương.
Những khó khăn, thách thức
Bên cạnh một số kết quả đạt được, việc triển khai Đề án 100 tại Khánh Hòa vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, đơn cử: Hệ thống pháp lý hiện nay chưa có quy định cụ thể về công tác kiểm tra, giám sát cũng như chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động TXNG. Một số Bộ, ngành chưa công bố đầy đủ danh mục sản phẩm phải áp dụng TXNG theo quy định gây khó khăn cho công tác quản lý theo chuyên ngành tại địa phương; Hạn chế về trình độ công nghệ và chi phí xây dựng, áp dụng và duy trì giải pháp phần mềm TXNG chưa được đồng bộ, chi phí vận hành cao, đặc biệt là đối với hộ nông dân và cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, song hành là yếu tố nguồn nhân lực chuyên trách ở cấp xã, phường còn thiếu và yếu kiến thức trong lĩnh vực TXNG, khó đảm bảo được yêu cầu về nghiệp vụ kiểm tra, giám sát chuyên sâu. Ngoài ra, vấn đề nhận thức của cộng đồng, một bộ phận doanh nghiệp, người sản xuất cũng chưa thấy hết lợi ích lâu dài của TXNG, còn ngại thay đổi do thói quen sản xuất truyền thống.
Những định hướng đến năm 2030
Với những kết quả đạt được mang tính tiền đề trong giai đoạn 2020 – 2025, để triển khai Đề án 100 đạt hiệu quả thiết thực trong giai đoạn tới năm 2030, Sở KH&CN Khánh Hòa đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm: Khẩn trương đặt hàng nhiệm vụ KH&CN nhằm xây dựng hệ thống quản lý thông tin TXNG ở cấp tỉnh hướng đến mục tiêu áp dụng đồng bộ cho các sản phẩm nông sản giá trị cao, đặc biệt là các sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên của tỉnh; Tập trung nhiệm vụ đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia về TXNG trên cơ sở tăng cường tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu, xây dựng lực lượng nòng cốt có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp; Tăng cường phối hợp với các tổ chức, chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ số để chuyển tải thông tin, hỗ trợ tư vấn các doanh nghiệp của tỉnh Khánh Hòa xây dựng, áp dụng công nghệ Blockchain, IoT, AI, Big Data… nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch thông tin, quảng bá sản phẩm. Đồng thời, các Sở ngành liên quan tập trung xây dựng vùng nguyên liệu và phát triển chuỗi cung ứng an toàn; đẩy mạnh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; xây dựng chuỗi cung ứng nông – lâm – thủy sản rõ ràng về nguồn gốc, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Sở KH&CN chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành chuyên môn tăng cường đề xuất, tham mưu cấp có thẩm quyền sớm ban hành các quy định cụ thể về công tác kiểm tra, xử lý vi phạm TXNG; cơ chế hỗ trợ chính sách tài chính để khuyến khích doanh nghiệp và hộ nông dân kết nối hệ thống TXNG Quốc gia; Phối hợp với các Bộ, ngành ban hành TCVN, QCVN và tài liệu hướng dẫn để thống nhất quy định áp dụng TXNG từ Trung ương đến địa phương.
Kết luận
Sau 5 năm triển khai, hoạt động TXNG tại Khánh Hòa đã đạt nhiều kết quả tích cực, từng bước đưa công cụ này trở thành giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu đến năm 2030 như đã nói trên, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân, cùng với sự hoàn thiện khung pháp lý và đầu tư đồng bộ cho hạ tầng công nghệ số tại địa phương.
- Bảo Quốc -